H TR TR T K TRNG MM NON









































- Slides: 41
HỖ TRỢ TRẺ TỰ KỈ Ở TRƯỜNG MẦM NON HOÀ NHẬP Báo cáo viên: Hoàng Kim Minh Trường MN Quảng Chu- Chợ Mới
-Học viên cùng chia sẻ những trường hợp trẻ tự kỉ và trẻ khuyết tật học hòa nhập ở đơn vị -Những biểu hiện của trẻ cho chúng ta nghĩ rằng trẻ bị tự kỷ - Khi lớp có trẻ tự kỷ giáo viên đã có biện pháp gì để hỗ trợ cho trẻ
I. MỤC TIÊU 1. Kiến thức - Hiểu được khái niệm trẻ tự kỉ, các dấu hiệu nhận biết sớm trẻ tự kỉ; - Hiểu được những khả năng và khó khăn điển hình của trẻ tự kỉ trong lớp học hoà nhập; -Xác định được các ý tưởng chính trong việc hỗ trợ trẻ tự kỉ trong môi trường giáo dục hoà nhập. 2. Kĩ năng - Lựa chọn được các biện pháp hỗ trợ phù hợp với trẻ tự kỉ trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ; - Áp dụng những biện pháp, kĩ năng đơn giản để tổ chức hoạt động cho trẻ tự kỉ trong lớp học hoà nhập. 3. Thái độ -Tôn trọng sự đa dạng của trẻ em.
II. NỘI DUNG 1. Hiểu về trẻ tự kỉ - Khái niệm trẻ tự kỉ; -Dấu hiệu nhận biết trẻ tự kỉ; -Ảnh hưởng của tự kỉ đến sự phát triển của trẻ. 2. Cách hỗ trợ trẻ tự kỉ học hoà nhập ở trường mầm non. - Những hỗ trợ chung cho trẻ tự kỉ trong lớp hoà nhập; - Hỗ trợ trẻ tự kỉ ở các góc hoạt động.
1. 1 Khái niệm trẻ tự kỉ Tự kỉ là một dạng khuyết tật phát triển tồn tại suốt đời, thường xuất hiện trong 3 năm đầu đời. Tự kỉ là do rối loạn thần kinh gây ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của não bộ. Tự kỉ có thể xuất hiện ở bất cứ cá nhân nào, không phân biệt giới tính, chủng tộc hoặc điều kiện kinh tế - xã hội. Đặc điểm của những trẻ này là những khiếm khuyết về tương tác xã hội, giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, có hành vi sở thích, hoạt động mang tính hạn hẹp, lặp đi lặp lại.
1. 2 Dấu hiệu nhận biết trẻ tự kỉ Tự kỉ có thể được phát hiện từ rất sớm, thông qua việc quan sát những dấu hiệu tương ứng với các giai đoạn phát triển của trẻ: • Giai đoạn 0 – 6 tháng: − Trẻ thiếu những cử chỉ thể hiện sự vui mừng khi mẹ đến gần, nhìn ngắm, vuốt ve và bế ẵm. − Không tỏ ra quan tâm, thích thú khi có người đến gần chăm sóc. − Giữ thái độ yên lặng và có phần lạnh lùng đối với lời nói và khuôn mặt của mẹ và người thân trong gia đình. − Có những động tác thể hiện sự tránh né (ưỡn người ra, ngoảnh mặt đi. . . ) khi được mẹ bế ở tư thế đối diện. − Cả ngày yên lặng, ít cử động. − Khi thì tỏ ra quá ngoan, khi thì khóc không rõ lí do và khó dỗ. − Khi mẹ hoặc người thân đến gần và chuẩn bị bế lên, trẻ không có cử chỉ chờ đợi, không có phản ứng mở hai tay đón nhận tay của người bế. − Trương lực cơ hoặc là cứng đờ, hoặc quá mềm nhũn. − Rối loạn giấc ngủ. − Thiếu phản xạ bú mút. − Thiếu bi bô phát âm. − Không có nụ cười mang tính xã hội (trong khoảng 4 − 6 tháng) khi có người lại gần, vui đùa và bồng bế.
• Giai đoạn 6 – 12 tháng: − Không có những cử chỉ tỏ ra vui mừng và thích thú khi có mẹ hay người thân tiến lại gần khi thức dậy. − Các cử chỉ không thích ứng một cách tự nhiên với hoàn cảnh. − Một mặt không quan tâm đến âm thanh, hình ảnh, thế giới đồ vật quen thuộc xung quanh. Mặt khác, lại quan tâm thái quá ñến các tác nhân kích thích như ánh sáng, vật thể quay tròn, những khe hở, những vật nhỏ li ti như hạt sạn. − Không có phản ứng lo sợ khi gặp người lạ.
• Giai đoạn 12 − 24 tháng: − Trẻ không thể hiện sự chia sẻ chú ý, điều này thể hiện rõ nhất ở chỗ: trẻ không chỉ tay vào đồ vật và không nhìn theo hướng tay chỉ của người khác. − Có thể không cảm thấy lo sợ khi bị tách khỏi bố mẹ. − Không để ý đến sự có mặt của người lạ. − Không tò mò khám phá môi trường xung quanh. − Chơi với đồ vật một cách khác thường: xoay tròn, lặp đi lặp lại một cách chơi, xếp vật theo đường thẳng. . . • Giai đoạn 24 − 36 tháng: − Trẻ không biết chơi giả vờ. − Thích ở một mình, không để ý đến những trẻ khác.
1. 2 Dấu hiệu nhận biết trẻ tự kỉ(tiếp) Lưu ý: Trên đây là những dấu hiệu cảnh báo, khi trẻ có những biểu hiện trên, giáo viên có thể nghi ngờ trẻ bị tự kỉ. Song để xác định trẻ có thực sự tự kỉ hay không, trẻ cần được đánh giá một cách cẩn thận bởi các chuyên gia. Giáo viên mầm non cầnthận trọng khi đưa thông tin để giúp cha mẹ hiểu đúng về trẻ. Giáo viên cần thông báo cha mẹ về những dấu hiệu cảnh báo ở trẻ, tuy nhiên, không nên đưa ra chẩn đoán rằng trẻ có tự kỉ hay không mà chỉ nên mô tả các hành vi của trẻ để cha mẹ quan tâm và tìm cách hỗ trợ trẻ. Việc giáo viên nên làm là phát hiện những khó khăn mà trẻ gặp phải và hỗ trợ kịp thời dựa trên khó khăn của trẻ chứ không phải là trẻ đã được xác định là có tự kỉ hay không.
1. 3 Ảnh hưởng của tự kỉ đến sự phát triển của. Tự trẻkỉ có ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ ở nhiều mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ tự kỉ, các ảnh hưởng thường thấy bao gồm: * Sự phát triển thể chất Trẻ tự kỉ có bề ngoài bình thường, các nghiên cứu công bố từ trước đến nay chưa có nghiên cứu nào nói đến sự khác thường về thể trạng bề ngoài của trẻ tự kỉ. Những chỉ số sinh học cơ bản như cân nặng, chiều cao, chỉ số phát triển sinh học giống như trẻ bình thường cùng tuổi. Các mốc phát triển vận động như lẫy, ngồi, bò, đi. . . không có sự khác thường. Các cơ quan cảm nhận bề ngoài và bên trong cơ thể xét về phương diện vật lí và sinh học giống như trẻ bình thường, nhưng hầu hết các mô tả về mặt chức năng tâm lí thì cho thấy sự bất thường rõ rệt, đặc biệt là các ngưỡng cảm giác.
* Sự phát triển ngôn ngữ và giao tiếp Mức độ phát triển ngôn ngữ ở trẻ tự kỉ rất đa dạng. Một số trẻ hiểu ngôn ngữ không lời và gặp khó khăn trong việc hiểu ngôn ngữ nói. Những trẻ này có thể hiểu hơn khi được làm mẫu vì chúng sử dụng mắt để tiếp nhận nội dung của tình huống. Phần lớn có thể hiểu những hướng dẫn đơn giản, hiểu được tên gọi của những vật đơn giản, gần gũi, như “đưa cho mẹ cái cốc", “đến đây và uống nước". . . Với những vật có nhiều hơn 1 tên gọi, trẻ cũng có thể gặp khó khăn trong việc hiểu tên gọi của chúng. Trẻ thường hiểu hơn nếu những gì được nói có kèm theo hình ảnh minh hoạ hoặc trẻ có thể liên tưởng tới một hình ảnh quen thuộc nào đó. Vốn từ của trẻ thường nghèo nàn, cấu trúc ngữ pháp thường bị sai là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc gặp khó khăn với những câu nói phức tạp, chứa đựng nhiều thông tin.
Sự khiếm khuyết trong việc sử dụng ngôn ngữ thì rất phổ biến và ñược xem là một đặc điểm nhận dạng của những trẻ em có rối loạn phổ tự kỉ. Cứ 4 hoặc 5 trẻ thì có 1 trẻ không bao giờ nói. Một số trẻ chỉ có thể bắt chước tiếng kêu của con vật, phát ra những âm thanh vô nghĩa. Những trẻ còn lại có thể phát triển ngôn ngữ nhưng thường chậm hơn bình thường. Ở một số trường hợp, sự phát triển ngôn ngữ có thể bị thoái lui, ban đầu có nói nhưng sau đó giảm dần và có thể mất hẳn. Về giao tiếp, trẻ biểu hiện kém giao tiếp mắt − mắt và có vấn đề về biểu lộ nét mặt, không biểu lộ phù hợp với tình huống giao tiếp.
* Sự phát triển nhận thức Trẻ tự kỉ thường có ngưỡng cảm giác không bình thường, một số trẻ có ngưỡng cảm giác quá thấp hoặc quá cao. Trẻ tự kỉ có thể có trí tuệ từ mức rất thấp đến mức cao. Theo thống kê có khoảng 25% trẻ tự kỉ có trí tuệ trên trung bình, trong số đó có một tỉ lệ có trí tuệ ở mức cao và rất cao. Tư duy hình ảnh thường phát triển mạnh và trở thành kiểu tư duy đặc trưng của trẻ tự kỉ, do đặc điểm tư duy này, trẻ tự kỉ thường gặp khó khăn trong việc tiếp nhận và xử lí những thông tin không thể hoặc khó hình ảnh hoá. Tư duy logic đối với trẻ tự kỉ là một khó khăn khá phổ biến. Logic của trẻ thường không gắn với ngôn ngữ với những thứ được khái quát hoá mà thường hết sức cụ thể, đó là thứ logic đơn giản nhất, là mối tương quan đơn thuần giữa hai đối tượng. Mặc dù có tư duy bằng hình ảnh khá phát triển nhưng các thao tác tư duy như phân tích và tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá và khái quát hoá lại có nhiều điểm hạn chế.
Trẻ tự kỉ thường gặp khó khăn trong khả năng tưởng tượng. Chính vì lẽ đó, ngay từ khi còn nhỏ, trẻ tự kỉ đã khó có thể tham gia vào các trò chơi đóng vai, khó có thể tưởng tượng việc xếp nhiều khúc gỗ một cách thẳng hàng sẽ cho ta đoàn tàu, búp bê sẽ thay cho em bé trong trò chơi mẹ – con và nếu có bạn nào đó mặc một chiếc áo bác sĩ có nghĩa là họ đang chơi giả vờ và đóng là bác sĩ. . . Khiếm khuyết về khả năng tưởng tượng là nét nổi bật ở những trẻ tự kỉ kể cả những trẻ có khả năng cao.
* Sự phát triển tình cảm xã hội Trẻ tự kỉ thường lờ đi hoặc dường như không quan tâm tới các trẻ khác. Những đặc điểm về tương tác xã hội được thể hiện khá đa dạng ở các trẻ tự kỉ, một số trẻ có biểu hiện tách biệt. Đây là biểu hiện cơ bản nhất thường xuyên thấy ở những trẻ tự kỉ. Một số trẻ khác lại thụ động, một số trẻ khác lại chủ động nhưng kì quặc. Trẻ không hiểu cần phải tương tác với người khác như thế nào cho phù hợp. Trẻ không thực sự hiểu những quy tắc trong giao tiếp xã hội và thường áp dụng một cách máy móc trong nhiều tình huống. Trẻ tự kỉ thường có nhiều hành vi bất thường. Một số hành vi thường gặp nhất: hành vi rập khuôn, định hình, hành vi tự kích thích, hành vi chống ñối, hành vi tăng động hoặc ù lì. . .
2. Cách hỗ trợ trẻ tự kỉ học hoà nhập ở trường mầm non “Giáo viên cần làm gì để hỗ trợ trẻ tự kỉ trong lớp hòa nhập? ”
1. Cách hỗ trợ trẻ tự kỉ học hoà nhập trong lớp hòa nhập - Thu hút sự tập trung chú ý, thiết lập mối quan hệ gần gũi, thân mật giữa giáo viên và các trẻ khác với trẻ tự kỉ; - Hướng dẫn, giải thích nội dung học tập trực quan, có cấu trúc; - Khuyến khích trẻ sử dụng ngôn ngữ và giao tiếp bằng nhiều cách khác nhau ; - Tổ chức các hoạt động chuyển tiếp; - Sử dụng một số phương tiện hỗ trợ
2. Cách hỗ trợ trẻ tự kỉ chơi ở các góc hoạt động *Câu hỏi thảo luận nhóm: - Khu vực chơi đóng vai. - Khu vực hoạt động tạo hình. - Khu vực chơi ghép hình, lắp ráp, xây dựng. - Khu vực hoạt động khám phá thiên nhiên và khoa học.
a) Nhiệm vụ của học viên − Học viên làm việc theo nhóm. − Trao đổi trong nhóm trả lời câu hỏi "Khi tổ chức hoạt động/trò chơi tại các góc, giáo viên cần làm gì để hỗ trợ trẻ tự kỉ này trong lớp hoà nhập? ". − Đại diện nhóm trình bày kết quả thảo luận với cả lớp.
b) Thông tin phản hồi Trong các lớp mẫu giáo có nhiều khu vực hoạt động khác nhau. Sau đây là những gợi ý giúp giáo viên điều chỉnh môi trường và cách hướng dẫn hoạt động cho trẻ trong một số khu vực hoạt động phổ biến ở trường mầm non. Tuy nhiên, chúng tôi không khuyến khích giáo viên thực hiện tất cả những gợi ý điều chỉnh mà tuỳ thuộc vào từng trẻ cụ thể để lựa chọn thực hiện một vài gợi ý điều chỉnh phù hợp. − Khu vực chơi đóng vai Trò chơi đóng vai là một trò chơi mà trẻ cần được chơi theo khả năng và độc lập trong trò chơi. Do vậy, hỗ trợ trẻ chơi nhưng cần tránh can thiệp quá mức vào trò chơi của trẻ. Khi muốn hỗ trợ trẻ, hãy đóng vai là một bạn chơi và gợi ý, làm mẫu cho trẻ những hành động cần thiết.
Trẻ tự kỉ có thể có hành vi tự kích thích, điều đó ảnh hưởng đến cách trẻ chơi trò chơi đóng vai. Chẳng hạn thay vì khám phá cách sử dụng đồ vật, trẻ có thể lắc hoặc xoay tròn đồ vật. Một số trẻ tự kỉ có thể học một vài kĩ năng chơi cơ bản nhưng không tiếp tục phát triển chơi tưởng tượng. Trẻ tự kỉ có thể gặp khó khăn khi chơi trong khoảng thời gian dài. Vì vậy, có thể bắt đầu bằng việc cho trẻ chơi trong nhóm nhỏ và sử dụng các đồ vật mà trẻ thích vào trò chơi để duy trì sự tập trung chú ý. Cung cấp cho trẻ những đồ chơi quen thuộc và là một phần kinh nghiệm sống hằng ngày của trẻ. Ví dụ: đồ dùng ăn uống; tắm, mặc quần áo cho búp bê. . . Nhắc lại các kinh nghiệm trong khoảng thời gian thích hợp để trẻ biết được tất cả các việc có thể làm khi chơi. Cung cấp ñồ chơi vừa đủ để tránh gây sao nhãng trẻ khi chơi. Đồ chơi phù hợp với khả năng sử dụng của trẻ, như áo có cúc lớn hơn để trẻ có thể cài được. Khuyến khích trẻ dùng lời trong quá trình chơi để hỏi, đề nghị và giao tiếp với bạn bè. Giải thích và đưa ra các quy tắc rõ ràng về những hành vi phù hợp khi trẻ chơi. Khi trẻ không biết đến lượt và tranh nhau thực hiện, hãy dùng một mảnh giấy để chuyển từ trẻ này sang trẻ khác khi đến lượt.
Cho trẻ tự kỉ tham gia đóng vai chơi mà có thể bắt chước được trẻ khác để thực hiện như: đóng vai là bệnh nhân trong trò chơi bác sĩ, người mua hàng trong trò chơi bán hàng. . . Một số trẻ tự kỉ không muốn chơi với những trẻ khác, chúng thích tự chơi một mình hơn. Một số trẻ khác thì có nhưng chúng gặp khó khăn trong việc thể hiện mong muốn này. Hãy bắt đầu bằng việc cho trẻ chơi 1 mình trong tấm thảm nhỏ ở góc chơi đóng vai, sau đó khuyến khích trẻ tương tác với các trẻ khác hoặc để trẻ em bình thường chơi một trò chơi thú vị cạnh trẻ để thu hút trẻ tham gia chơi cùng. Thông thường, trò chơi biểu tượng không tự xuất hiện ở trẻ tự kỉ mà trẻ lặp lại, hoặc bắt chước y hệt từ tivi hoặc một tình huống mà trẻ đã gặp. Ví dụ, trẻ hằng ngày chơi và thực hiện cùng một trình tự với con búp bê: tắm cho búp bê và gội đầu, chải tóc cho búp bê. Hoặc có trẻ hằng ngày đều chơi cùng một trò chơi đuổi bắt. Đầu tiên, trẻ chỉ chơi trò chơi đó với bạn cùng lớp, nhưng dần bắt đầu tham gia các trò chơi đuổi bắt một cách tự nhiên với các trẻ khác. Như vậy, ban đầu, hãy chấp nhận trẻ bắt chước máy móc nhưng sự bắt chước này có thể là một tác nhân kích thích làm cho trẻ tự kỉ có khả năng nảy sinh sự đóng vai tự nhiên.
Hướng dẫn cho các trẻ bình thường trong lớp cách giúp bạn tham gia vào trò chơi như rủ bạn chơi cùng, cầm tay bạn, làm mẫu cho bạn. Hướng dẫn cho trẻ tự kỉ những câu nói thông thường như "Bạn đang làm gì đấy? " để tham gia vào trò chơi. Tăng động, dễ sao nhãng có thể cản trở sự phát triển kĩ năng chơi của trẻ. Trẻ cũng có thể tập trung vào những trò chơi mà trẻ chọn và phù hợp với sở thích của chúng. Sự mới lạ cũng vô cùng quan trọng. Thêm những yếu tố mới lạ vào môi trường chơi có thể thu hút sự tập trung chú ý của trẻ. Ví dụ trẻ đang thích chơi trò chơi chăm sóc em bé, đưa thêm đồ chơi bác sĩ và gợi ý cho trẻ rằng em bé ốm, cần bác sĩ khám. Nếu trẻ bỏ trò chơi sau một vài phút, hãy yêu cầu trẻ ở lại trò chơi và gợi ý cho trẻ làm cái gì đó khác. Hạn chế các yếu tố gây sao nhãng ở góc chơi đóng vai bằng cách dùng khăn, rèm ngăn thành góc nhỏ.
− Khu vực hoạt động tạo hình Đây là khu vực mà trẻ trải qua phần lớn thời gian cho các hoạt động sử dụng các vật liệu tạo hình như sáp màu, bút chì, cọ vẽ, giấy màu, kéo, hồ. . . Trẻ tự kỉ có thể có mức độ phát triển tương ứng với trẻ bình thường cùng độ tuổi ở một số kĩ năng, song một số kĩ năng khác lại phát triển chậm hơn so với trẻ bình thường cùng độ tuổi. Do vậy, giáo viên cần chấp nhận những gì trẻ có thể làm được ở mức độ phát triển hiện tại và cố gắng thúc đẩy trẻ đạt được kĩ năng ở giai đoạn tiếp theo. Luôn nhớ rằng cần lặp đi lặp lại nhiều lần một nội dung học tập nào đó cho trẻ tự kỉ. Nếu cần nhiều bước để hoàn thành một sản phẩm, hãy chia các hoạt động hoặc nhiệm vụ thành các bước nhỏ, hướng dẫn từng bước một cho trẻ, hoặc hỗ trợ một phần để trẻ có thể hoàn thành được sản phẩm. Hỗ trợ trẻ hoàn thành từng bước trước khi chuyển sang bước tiếp theo.
Một số trẻ có thể cần giáo viên hỗ trợ về thể chất như cầm tay. Luôn nhớ chạm mạnh vào tay trẻ thay vì chạm nhẹ có thể gây cảm giác kích thích. Với những hình phức tạp, giáo viên có thể hỗ trợ bằng cách cắt sẵn giấy đề can thành từng hình để trẻ dán. Cung cấp cho trẻ các khuôn hình như hình vuông, tròn, tam giác, chữ nhật. . . , dựa vào các hình này, trẻ tạo thành hình lá, hoa, nhà, xe ô tô, người. . . Không nên chỉ dẫn bằng lời trong thời gian dài mà chỉ dẫn trẻ bằng nhiều cách khác nhau. Nhiều trẻ tự kỉ phản ứng với cử chỉ, tranh ảnh, biểu tượng tốt hơn chỉ dẫn bằng lời. Rất nhiều trẻ tự kỉ không thích các vật liệu cảm giác và có mùi. Phấn, sáp màu, bút chì, màu sơn, hồ dán. . . là những vật liệu mà ñôi khi có thể gây sự khó chịu. Hãy tôn trọng những khác biệt này và không bắt buộc trẻ sử dụng hoặc cầm những vật liệu mà trẻ không thích. Giới thiệu dần các vật liệu và cho phép trẻ khám phá các vật liệu thông qua các giác quan trước khi trẻ chạm vào nó. Chẳng hạn: trẻ có thể nhìn, ngửi hoặc xem giáo viên và các bạn khác chơi với vật liệu trước khi trẻ chơi. Trong một số tình huống có thể sử dụng các vật liệu thay thế như thay vì vẽ bằng tay thì cho trẻ dùng cọ phết, sử dụng hồ khô hơn là sử dụng hồ nước nếu trẻ không kiểm soát được lượng hồ dán đổ ra.
Không nên đưa ra cho trẻ quá nhiều ý tưởng và vật liệu. Hãy đặt những vật liệu thực sự cần thiết cho từng bước thực hiện hoạt động, khi bước này kết thúc mới cung cấp vật liệu cho bước tiếp theo. Đặt từng loại vật liệu vào từng hộp riêng, trải một chiếc khăn/thảm nhỏ ñể trẻ nhận biết không gian dành cho trẻ hoạt động. Nếu trẻ khó khăn để chuyển trẻ từ hoạt động này sang hoạt động khác, hãy sử dụng “đồng hồ" hoặc dấu hiệu để trẻ nhận biết thời gian hoạt động đã kết thúc. Chẳng hạn sử dụng bài hát "Bạn ơi hết giờ rồi. . . " để trẻ nhận biết và cùng thực hiện việc cất dọn đồ dùng. Bài hát cho phép trẻ có một vài phút để kết thúc công việc thay vì phải dừng ngay. Trẻ tự kỉ có thể không nhận biết giới hạn không gian hoạt động, chúng dễ xâm phạm sang khu vực của bạn khác. Do vậy, cần giúp trẻ có không gian vừa đủ, được sắp xếp gọn gàng và có giới hạn rõ ràng. Giáo viên có thể sử dụng bìa cát tông để ngăn khu vực hoạt động của trẻ và những trẻ khác. Một số trẻ có khả năng nhận ra hình và đường nét tốt, cần lưu ý cho trẻ tham gia vào các hoạt động phức tạp hơn như cắt sẵn chữ cái, hình ảnh từ hoạ báo để cho trẻ chắp ghép và dán.
Nếu trẻ có rối loạn về hành vi, trẻ có thể hiện kém hơn ở các kĩ năng tổ chức, sắp xếp. Một trẻ có thể quan sát bạn làm một sản phẩm cắt dán và cũng muốn bắt chước làm theo, song khi làm lại dễ làm hỏng và thất vọng. Tình huống này có thể dẫn đến mất tự tin ở trẻ và những hành vi không mong muốn. Giáo viên có thể hỗ trợ một vài bước trước và cho trẻ làm tiếp ñể hoàn thành sản phẩm. Điều quan trọng cần cung cấp cho trẻ hoạt ñộng và sự hướng dẫn phù hợp để trẻ thành công. − Khu vực chơi ghép hình, lắp ráp, xây dựng Trẻ tự kỉ thường không sẵn sàng trong sử dụng vật liệu lắp ghép xây dựng như trẻ em bình thường cùng ñộ tuổi. Một số trẻ thích chơi với các đồ vật để khám phá đặc điểm như nặng nhẹ, bề mặt nhẵn hay thô ráp. . . trong khi các trẻ khác thích sử dụng các khối gỗ để xếp thành hình đoàn tàu, nhà, dãy phố. . . Hoặc có trẻ lại sử dụng các hình khối để làm đau mình hoặc các bạn. Chúng có thể gặm, đập hoặc ném hình khối trong khi các trẻ khác đang chơi. Sau đây là những gợi ý để giúp trẻ tham gia vào khu vực chơi xây dựng tốt hơn.
Một số trẻ tự kỉ có thể quá nhạy cảm với một số cảm giác nào đó. Trong góc xây dựng, những âm thanh không mong muốn như tiếng khối gỗ chạm vào nhau, rơi xuống sàn có thể làm trẻ sợ, rối loạn. Mặt khác một số hình khối có thể có mùi (mùi gỗ, nhựa, sơn), hầu hết trẻ em bình thường ít chú ý đến mùi, song một số trẻ tự kỉ lại rất nhạy cảm với những mùi này và làm chúng khó chịu. Một số trẻ tự kỉ có thể không chọn góc Xây dựng bởi chúng sợ tiếng va chạm. Tôn trọng cảm giác của trẻ và không ép buộc trẻ phải chơi ở góc này. Dần dần cho trẻ chơi ở khu vực gần hơn với góc Xây dựng như đứng cạnh, xem các bạn khác chơi, ngồi xuống và chạm vào một vài hình khối, cuối cùng là nhặt, xếp hình khối. Hoặc cho trẻ cơ hội chơi với các hình khối trong các góc khác của lớp học để trẻ có cảm giác an toàn. Hạn chế bớt tiếng ồn ở góc Xây dựng bằng cách trải thảm, sử dụng những khối hình bằng bìa, cho trẻ chơi nhóm nhỏ với chỉ có 1 − 2 trẻ. Đặt giới hạn cho góc Xây dựng bằng cách xếp hình khối thành một khung ngăn hoặc dùng tấm thảm, khăn tắm trải xuống sàn và trẻ chỉ được phép hoạt động trong khu vực thảm/khăn, sử dụng tấm ngăn bằng bìa cát tông. . . Với những trẻ khó nhận biết giới hạn không gian, nên cho trẻ một rổ đồ chơi riêng và tự làm với rổ đồ chơi của mình mà không với sang góc khác hoặc lấy đồ chơi của bạn khác.
Ban đầu nên cho trẻ chơi với số lượng ít hình khối (5 đến 8 khối), sử dụng các khối có hình hoặc kích cỡ giống nhau, sau ñó dần cung cấp thêm các khối có hình và kích cỡ khác nhau để trẻ luôn thấy có sự quen thuộc ở góc Xây dựng. Khuyến khích trẻ chơi với các hình khối ở nhiều tư thế khác nhau ngồi, quỳ, đứng. Chơi ở các tư thế khác nhau giúp trẻ duy trì thời gian chơi lâu hơn và khuyến khích sự vận động của ngực, vai, tay. . . Những trẻ hấp tấp hoặc rối loạn về hành vi có thể không xếp được các khối hình cẩn thận, chính xác, hình chúng xếp dễ đổ. Giáo viên cần quan sát tốt để gợi ý cho trẻ xếp hình thấp hơn tránh việc chúng bị đổ và gây cho trẻ sự tức giận, hành vi ném hoặc đập khối hình. Các khối gỗ không được xếp cao hơn chiều cao của trẻ để tránh làm đau trẻ khi chúng đổ.
− Khu vực hoạt động khám phá thiên nhiên và khoa học Trong các hoạt động khám phá thiên nhiên và khoa học, trẻ tự kỉ có thể thích thú với một số vật liệu nào đó chẳng hạn như nước, con vật. . . Với những hoạt động này sẽ là cơ hội tốt để khuyến khích trẻ học ngôn ngữ, tương tác xã hội và học quy tắc khi tham gia hoạt động. Tuy nhiên, trẻ có thể miễn cưỡng sử dụng đồ dùng, đồ chơi theo đúng cách và thích các hoạt động mang tính cảm giác hơn như lặp đi lặp lại việc rải cát. Hãy sử dụng các bức tranh chỉ dẫn hoạt động và nhắc lại bằng cách làm mẫu cho trẻ những thao tác với các vật liệu để trẻ cảm thấy thoải mái hơn khi tham gia hoạt động. Trẻ tự kỉ cần các hoạt động khám phá được hướng dẫn một cách có cấu trúc, để giúp trẻ hiểu trình tự của các kĩ năng và các hoạt động. Hãy giải thích ngắn gọn, đưa cho trẻ một ít vật liệu và làm mẫu cho trẻ cách sử dụng chúng. Giáo viên cũng cần chắc chắn trẻ hiểu quy tắc khi tham gia hoạt động. Nói mẫu cho trẻ những từ chỉ khái niệm khi tham gia vào hoạt động khám phá như: to, nhỏ, đầy, vơi. . .
Cho trẻ tham gia hoạt động trong nhóm nhỏ khoảng 2 − 3 trẻ để giáo viên dễ bao quát hơn và khuyến khích trẻ tương tác với các bạn. Nhiều vấn đề về hành vi của trẻ có thể xuất hiện có liên quan đến khoảng cách giữa các trẻ. Nếu trẻ tự kỉ ngồi quá gần trẻ khác có thể khuyến khích trẻ có những hành vi chạm vào người trẻ khác. Hoặc một vài trẻ tự kỉ cũng sẽ rất khó chịu khi trẻ khác chạm vào người chúng, đặc biệt là khi chạm nhẹ, do vậy cần đảm bảo khoảng cách giữa các trẻ phù hợp khi các trẻ cùng nhau tham gia vào hoạt động khám phá. Quan sát trẻ thường xuyên, xem xét các yếu tố có thể kích thích những hành vi không mong muốn ở trẻ như bề mặt đồ dùng, độ lạnh/nóng, màu sắc, mùi. . . Một số vật liệu khám phá có thể quá kích thích cảm giác của trẻ như cát, nước. . . Thay cát bằng sỏi có thể giúp trẻ tốt vì chúng có cảm giác nặng và chắc chắn hơn. Nhưng cần sử dụng sỏi lớn vì viên sỏi nhỏ có thể trẻ sẽ nuốt phải. Chỉ cung cấp cho trẻ 1 − 2 đồ dùng, sau khi trẻ chú ý vào hoạt ñộng có thể đổi cho trẻ đồ dùng khác.
Nếu trẻ dường như chỉ dừng lại ở việc lặp đi lặp lại, tự kích thích với các vật liệu khám phá, hãy làm mẫu cho trẻ những chức năng khác của đồ dùng, vật liệu để dần trẻ sử dụng vật liệu có ý nghĩa hơn. Nếu trẻ từ chối tham gia vào hoạt động khám phá những đối tượng mới mà chỉ thích chơi với một vật liệu nào đó, hãy cố gắng đưa đồ chơi là sở thích của trẻ vào hoạt động mới. Ví dụ: trẻ thích chơi với chiếc xe ô tô mà không muốn chơi với cát, hãy cho phép trẻ cho ô tô chạy trên cát. Nếu trẻ sợ hoặc ngại ngần khi tham gia vào một hoạt động nào đó. Ban đầu hãy cho trẻ đứng gần, chạm tay vào một chút, cầm nắm ñồ chơi và sau đó cho trẻ thực hiện các thao tác đơn giản. Luôn quan tâm đến mức độ hứng thú của trẻ, nếu trẻ quá phấn khích với một hoạt ñộng nào đó và thể hiện hành vi không kiểm soát được, nên cho trẻ về khu vực yên tĩnh để giúp trẻ bình tĩnh lại.
3. Cách hỗ trợ trẻ tự kỉ trong các hoạt động 3. 1. Trong từng hoạt động giáo viên có thể hỗ trợ trẻ tự kỉ thông qua: - Sắp xếp môi trường, cung cấp nguyên vật liệu hoạt động. - Hướng dẫn trẻ thực hiện hoạt động. - Hỗ trợ trẻ trong quá trình hoạt động. - Khuyến khích sự giúp đỡ của các bạn cùng trang lứa.
3. 2. Thu hút sự tập trung chú ý, thiết lập mối quan hệ gần gũi, thân mật giữa giáo viên và các trẻ khác với trẻ tự kỉ. Giáo viên có thể thu hút sự chú ý của trẻ bằng cách khuyến khích tương tác mắt, thu hút sự chú ý của trẻ vào khuôn mặt mình, sử dụng tên của trẻ một cách thường xuyên nhưng có chủ ñích, sử dụng các kích thị giác và kí hiệu ñể duy trì sự chú ý của trẻ. Cần quan sát kĩ để có thể tìm ra được những khó khăn/những điều mà trẻ thích và không thích liên quan đến các kích thích cảm giác như ánh sáng, âm thanh, hình ảnh. Đưa ra những kích thích cảm giác một cách phù hợp như trẻ có thể cảm thấy thoải mái hơn khi được nghe bản nhạc nào đó hoặc được ôm ấp, tránh những kích thích cảm giác khiến trẻ trở nên căng thẳng, hoảng sợ. Sử dụng một số kích thích cảm giác cho trẻ để giúp trẻ bình tĩnh lại như dùng ánh đèn mờ hoặc không dùng đèn, tránh sự sao nhãng bằng tấm rèm chắn, vuốt ve một đồ vật mềm, cầm một vật ấm, ôm trẻ. . . Hoặc giúp trẻ tỉnh táo hơn như dùng đèn sáng, dùng đèn tập trung vào vật, chạm nhẹ vào lòng bàn tay, nhảy lên một cái đệm lò xo. . .
Làm việc với trẻ trong môi trường yên tĩnh, ít sự sao nhãng để cho phép trẻ tập trung vào hoạt động hiện tại. Những đứa trẻ tự kỉ thường tỏ ra cách biệt, hoặc rất cô lập và đơn độc. Chúng né tránh những ñứa trẻ khác, hoặc lờ đi những đứa trẻ khác mà không có một lí do nào cả. Giáo viên hãy luôn gần gũi, tạo sự tin cậy cho trẻ bằng cách vuốt ve trẻ ñể trẻ cảm nhận được sự gần gũi mặc dù lúc đầu có thể trẻ không thích. Trong lúc ôm ấp và vuốt ve trẻ hãy cho trẻ xem những đồ chơi, hoặc làm một điều gì đó làm cho trẻ có thể thấy thích thú từ đồ chơi đó. Khi tiếp xúc với trẻ, hãy ngồi gần trẻ và đối xử như trẻ đang nhận ra có giáo viên bên cạnh. Mặt khác, giáo viên cũng nên khuyến khích các trẻ em khác trong lớp chơi cùng, chỉ dẫn cho trẻ tự kỉ và chấp nhận một số khác biệt của trẻ.
3. 3. Hướng dẫn, giải thích nội dung học tập trực quan, có cấu trúc Phần lớn trẻ tự kỉ có khả năng ghi nhớ hình ảnh tốt, vì vậy sử dụng những hình ảnh để hỗ trợ việc học của trẻ là việc làm cần thiết. Lựa chọn và tổ chức hoạt động học tập cho trẻ dựa trên sở thích của trẻ bằng cách lồng ghép các nội dung học tập vào các hoạt ñộng mà trẻ ưa thích. Hướng dẫn cho trẻ một cách có cấu trúc bằng cách hướng dẫn cho trẻ từng bước rõ ràng, thống nhất. Khi kết thúc một bước hoặc một hoạt động, hãy giải thích cho trẻ bước hoặc hoạt động tiếp theo. Giáo viên có thể sử dụng bảng trình tự các bước của một hoạt động hoặc thời gian biểu bằng tranh để trẻ có thể biết ñược thứ tự các bước hoặc các hoạt ñộng trong ngày. Khi hướng dẫn cho trẻ, hãy cho các giải thích thật đơn giản, sử dụng ít từ, nói chậm rãi, rõ ràng và chắc chắn là trẻ đang chú ý.
Sử dụng những từ nhất quán vì trẻ thường gặp khó khăn trong việc khái quát hoá, và hiểu rằng một sự vật có thể được gọi bằng nhiều tên khác nhau. Dạy trẻ trong những tình huống cụ thể và tạo ra những bối cảnh để trẻ được luyện tập. Chẳng hạn, trong giờ ăn nhẹ, hãy chỉ cho trẻ thấy và mô tả: "Nhìn này, quả chuối màu vàng đẹp không? " Trong khi chơi, hãy cho trẻ có nhiều cơ hội lặp lại bằng cách chỉ cho trẻ: “Đây là quả chuối, quả con vừa ăn trưa nay đấy". Khi hướng dẫn và dạy học cho trẻ tự kỉ đòi hỏi giáo viên cần kiên nhẫn ngay cả khi trẻ dường như không có phản ứng.
3. 4. Khuyến khích trẻ sử dụng ngôn ngữ và giao tiếp bằng nhiều cách khác nhau Khuyến khích trẻ tự kỉ sử dụng ngôn ngữ nói và nói theo câu mẫu. Giúp trẻ nói được một số mẫu câu hỏi và câu nói trong những tình huống cơ bản quen thuộc hằng ngày. Có thể dạy trẻ mẫu câu hỏi: "Cái gì đây? " khi muốn biết tên của một đồ vật hay cái gì đó. Dạy trẻ nói "Chào. . . ạ" khi gặp ai đó. Dạy trẻ "Con muốn. . . " khi trẻ muốn điều gì đó. . . Dùng những từ mô tả con người, đồ vật, hành động, hiện tượng xung quanh trẻ, dùng những từ đơn giản và lặp lại thường xuyên. Hãy nói với trẻ trong những tình huống hằng ngày: về những điều trẻ đang làm, những điều người xung quanh đang làm, nói về những điều trẻ thích và hiểu biết nhất. Khi kĩ năng ngôn ngữ của trẻ đã tiến triển có thể mở rộng chủ đề, có thể dùng những câu dài hơn và luôn tìm cách mở rộng vốn từ cho trẻ, nếu trẻ đã nói được "ô tô" người lớn lên dạy trẻ nói "ô tô màu xanh". . .
Với một số trẻ tự kỉ có ít ngôn ngữ hoặc không có ngôn ngữ, hãy sử dụng các phương tiện giao tiếp khác với trẻ như tranh ảnh, biểu tượng, kí hiệu. đáp ứng cho trẻ thấy (bằng phản ứng thích hợp như vỗ tay, mỉm cười, ôm trẻ vào lòng) ñể trẻ hiểu sự cố gắng giao tiếp của trẻ là rất tốt, rất đáng khen. 3. 4. Tổ chức các hoạt động chuyển tiếp. Thời gian chuyển tiếp giữa các hoạt động là khoảng thời gian khó khăn đối với nhiều giáo viên và trẻ em. Đối với trẻ tự kỉ, đây là thời gian không rõ ràng với trẻ. Chúng cần các kích thích quen thuộc như là những dấu hiệu hỗ trợ và khuyến khích cảm giác an toàn của trẻ. Nếu không được xem xét kĩ lưỡng, thời gian chuyển tiếp có thể trở nên bối rối cho trẻ tự kỉ và dẫn đến hành vi không mong muốn. Khi tất cả trẻ trong lớp phải di chuyển từ khu vực này sang khu vực khác, hãy chia trẻ thành các nhóm nhỏ. Để chuẩn bị cho trẻ thay đổi hoạt động, nên nói trước cho trẻ là hoạt động này sắp kết thúc và khi nào nghe thấy tiếng chuông hoặc tiếng nhạc là kết thúc hoạt động. Có thời gian chuẩn bị cho các hoạt động khác rất quan trọng đối với trẻ tự kỉ. Chẳng hạn, có trẻ không thể vượt qua được với những thay đổi đột ngột, nếu nói trẻ kết thúc một hoạt động nào đó ngay là trẻ trở nên giận dữ, ném đồ chơi nhưng nếu nói trước để trẻ chuẩn bị thì trẻ dễ dàng kết thúc hoạt động thậm chí cả với những hoạt động mà trẻ thích thú.
3. 5. Sử dụng một số phương tiện hỗ trợ Sử dụng đồ chơi, đồ dùng an toàn. Tránh sử dụng những đồ vật có thể kích thích những hành vi hung hãn ở trẻ. Một số trẻ tự kỉ có khăn trong giao tiếp bằng lời nói có thể cần đến các tranh ảnh, biểu tượng hỗ trợ giao tiếp. Một số trẻ tự kỉ có vấn ñề về hành vi có thể sử dụng thuốc hoặc chế độ dinh dưỡng đặc biệt. Vấn đề này phải tiến hành cẩn thận, thông tin cho cha mẹ trẻ biết và theo dõi sự thay đổi về hành vi có liên quan tới các phản ứng phụ do được bổ sung dinh dưỡng hoặc dùng thuốc gây ra.
Xin chân thành cảm ơn.









































